Chào mừng quý vị và các bạn đến với website của Quách Quyển - Trường THCS Phúc Thịnh- huyện Ngọc Lặc - tỉnh Thanh Hóa

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Gốc > Trang Văn học >

THANH HÓA QUÊ CHOA

THANH HOÁ DƯỚI CÁCH NHÌN CỦA NGƯỜI TỈNH NGOÀI

 Bản đồ thanh Hoá 4.000 năm không đổi


  Thanh hoá "Quê ta"

Khu Bốn đuổi ra, Khu Ba đuổi vào
Bỏ chạy sang Lào, Lào không thèm nhận.
Bực mình tức giận, lập quốc gia riêng
Thủ đô thiêng liêng, là huyện Nông Cống
Quốc ca chính thống, là "dô tá dô tà"
Nông nghiệp nước nhà, toàn cây rau má.
Biển khơi lắm cá, mười mẻ một cân.
Vang tiếng xa gần, nem chua toàn lá.
Còn công nghiệp hoá, là phá đường tàu.
Đục ống dẫn dầu, cắt dây điện thoại
Thiên nhiên ưu đãi, lũ lụt triền miên.
Có nhiều nhất miền, là đất pha cát.
Rừng xanh bát ngát, là rặng phi lao.
Gió mát rì rào, là gió Lào nóng hổi.
Công trình nổi trội, vượt cả núi non.
Có cái cầu con, gọi là cầu bố.
Mấy cây lố nhố, thì gọi rừng thông.
Núi to bỏ ông-Gọi là núi Chẹt.
Núi bằng cái mẹt-Gọi là núi Voi

Ai đến mà coi-Quốc gia Thanh Hoá

Công nghiệp bứt phá-Là phá đường tầu
Mục tiêu hàng hàng đầu: Luồng, lang, lạc, lá

Làm ăn khấm khá trong nhiều chữ L.

Cái cầu đơn xơ gọi là cầu Bố
Hàng cây lố nhố gọi là rừng thông

Con gái chưa chồng, đặt vòng tránh đẻ.

Thanh niên trai trẻ, lại sớm về hưu.

Làng xóm tiêu điều: Nông thôn đổi mới !
Quốc ca truyền thống “Dô tả dô tà”
'Tích cực tăng gia-Trồng tòan rau má
Dựa vào vách đá-Bắn được máy bay'
Đàn lợn thả ngày- "kinh tế hiện đại"
Mấy bà đứng đái "thuỷ lợi tưới tiêu"
Phá đường tàu nhiều, rau không kịp mọc

Trẻ con đi học, thường Nắm đuôi trâu

Tiết kiệm xăng dầu, bơi qua sông Mã......

Rồi họ còn xuyên tạc bài hát:

Các cụ dân quân Thanh Hóa

“Hôm qua mưa rất to
Các cụ cởi truồng đi bắt cá rô
Cá quẫy đằng đông,
Các cụ bắt đằng Tây
Hỡi dô trên đất này
Có cụ già đi bắt cá rô

Tuổi cao chí càng cao, răng càng lung lay
Không nhai được cháy nữa rồi
Sóng vỗ vào mông,
Các cụ rụng hết cả lông
Hỡi dô trên đất này
Có cụ già ấy không có lông
Thế có tức không

Huân chương không lấy đâu
Các cụ bảo rằng thịt trâu dễ chia
Máy bay đằng Đông,
Các cụ giương súng đằng Tây
Hỡi dô trên đất này
Có cụ già bắn rơi máy bay
Hết xăng”

Rồi họ còn hát dân ca Thanh Hoá

bôi bác ước mơ của con cháu quê choa:

Mơ ước cao của “con” người Thanh hóa

“Dô tá, dô tà”
Năm nay sẽ được mùa rau má lớn
Tàu rau má, to bằng tàu lá sen

“Dô tá, dô tà”
Nhà 7 người chỉ cần xơi một lá
Là đủ no liên suốt hết cả tuần

“Dô tá, dô tà-dô khoan, dô hầy

ơi dô khoan ta dô khoan”-Thế có sướng không

Ước mơ lớn của “cháu” người Thanh hóa

“Dô tá, dô tà”
Năm sau sẽ được mùa rau má nữa
Tàu rau má, to bằng tàu lá chuối

“Dô tá, dô tà”
Nhà 7 người chỉ cần xơi một lá
Là đủ no suốt hết cả tháng ròng

“Dô tá, dô tà-dô khoan, dô hầy

ơi dô khoan ta dô khoan”-Thế đã sướng chưa


NGHE THƠ: THANH HOÁ QUÊ CHOA TỰ ĐÁNH GIÁ MÌNH
http://farm2.static.flickr.com/1294/906276948_13b979d30c.jpg

Quê choa Thanh Hóa đẹp tuyệt vời,
Có dòng Sông Mã lặng lờ trôi,
Có hàng tre nhỏ bao làng xóm,
Có cánh chim câu liệng giữa trời.
Ấy thế mà!
Họ bảo choa: dân ba tỷ bảy,(Nợ NN năm 1985)
Họ bảo choa: dân cạy đường tàu,
Họ bảo choa: chỉ thích thịt trâu,
Chia cho dễ huân huy chương không thích.
Chuyện hàng ngày choa đâu có trách,
Cãi cọ tép, tôm khu nọ, khu kia.
Một dải non sông, choa đâu muốn phân chia,
Mà họ bảo choa, thích lập vương quốc mới.
Đẩy vào đẩy ra, đẩy sang Lào không nổi,
Tức giận trở về định lập quốc gia riêng.
Cuộc đấu tranh chống Mỹ thiêng liêng,
Các bô lão choa bắn rơi thần sét.
Họ lại bảo choa: súng trường đì đẹt,
Vớ giặc lái mù, lại lúc hết sạch xăng.
Họ lại bảo choa: ăn nói lăng nhăng,
Làm ăn lớn – thả rông cho lợn chạy.
Họ bảo choa: dân ba tỷ bảy,
Bởi làm ăn trông vào sáu chữ lờ
(Lợn, lúa, lang, luồng, lạc, lá)
Nhắc nợ hoài vẫn cứ làm ngơ,
Ruộng đất lắm, mà suốt đời tất bật.
Đào rau má mà làm cho tàu bị lật,
Cái cầu cỏn con thì bảo là to.
Bằng cái quạt mo mà gọi là cầu bố,
Có cái đồi thông mấy cây lố nhố,
Mà cứ khoe khoang gọi đó là rừng,
Họ nói nhiều, choa đâu dám dửng dưng,
Không có lửa thì làm sao có khói,
Họ dèm pha, cũng làm mình nhức nhối.
Tự ngẫm quê mình sao vẫn cứ nghèo xơ,
Đất tỉnh Thanh – một miền đất nên thơ.
Có biển mênh mông, trải dài theo đất nước,
Rừng bạt ngàn đến tận vùng Bá Thước.
Mỏ Crôm Cổ Định trữ lượng giàu,
Hàm Rồng hiên ngay hùng vĩ những nhịp cầu,
Vẫn kiêu hãnh vắt qua dòng sông Mã,
Sông Suối nên thơ vẫn trôi về biển cả,
Đã trở thành huyền thoại đất tỉnh Thanh,
Một dòng sông nảy lửa chiến tranh.
Vùi đáy sâu biết bao tàu bay Mỹ,
Ai đã đến đất Thanh rồi nhỉ?
Có ngỡ ngàng không?khi đến đất nơi này.
Thị xã tranh nghèo nay đã lắm đổi thay,
Một thành phố nguy nga và tráng lệ.
Du khách đổ về nhiều không đếm xuể,
Khao khát hè về nghỉ mát biển Sầm Sơn.
Ôi ! Sầm Sơn, còn đâu nữa đẹp hơn?
Trai, gái đến không muốn rời xa nữa,
Biển đẹp hiền hòa như vòng tay mẹ.
Giang rộng đón con ôm chặt vào lòng,
Đến đất Thanh rồi thấy có tuyệt vời không???

http://vietnamfreedomtour.com/vn/images/uploads/Product/samson1.gif

Bay có biết rằng trong lịch sử cha, ông

Dân Thanh Hoá quê choa đều làm vua cả đó

Từ Tiền Lê-Hậu Lê-đánh tan Nhà Mạc nữa

Rồi Hồ Qúi Ly-đến Minh Mạng-Gia Long

Họ Trịnh-Nguyễn quê choa cũng làm chúa 200 năm

Nhưng do dưới vua nên quê choa không tính.

Văn nhân, Đại thần quê choa nhiều vô kể

Bởi đất nhiều Rồng nên chẳng thể sống chung

Phải vào đàng trong ở cùng “đồ xứ Nghệ”

Bởi thế nên quê choa mới bị người ta chế:

"Xứ Thanh quen Cậy thế để Xứ Nghệ cậy thần"  

Những đứa con xa quê, nghe chớ bần thần

Bởi bản chất của dân quê choa là vậy đó.

Yêu nước, cần cù và cũng rất Trung Quân
Hãy nhớ đất mẹ nghèo nuôi thân mình khôn lớn,
Và phải biết mẹ trải quá nhiều đau đớn.
Vất vả và khổ rồi nên càng lớn, càng yêu,
Ta yêu tổ quốc Việt Nam bao nhiêu,
Càng tự hào nhiều vì mình Quê Thanh Hóa.


ĐIỂM LẠI LỊCH SỬ DỰNG NƯỚC VÀ GIỮ NƯỚC CỦA NGƯỜI QUÊ CHOA

1/Thời đồng đá

Văn hoá Hoa Lộc là văn hoá từ đá chuyển sang đồng được chia làm 3 giai đoạn: Cồn Chân Tiên, Ðông Khối và Quì Chử cách ngày nay 4.200 năm.

Hoa Lộc thuộc huyện Hậu Lộc gồm di vật Ðá mới hoàn hảo, mài dũa mịn màng tất cả các mặt, đặc biệt có lưỡi cuốc đá, có thể có cả lưỡi cày đá, các đồ gốm có trang trí và nung chín là nồi niêu, bát đĩa đủ loại. Cồn Chân Tiên ở sát chân phía Ðông Nam núi Ðọ, thuộc xã Thiệu Khánh (Thiệu Hoá) là một di chỉ Văn hoá Hoa Lộc quan trọng, được coi là cốt lõi mở đầu việc hình thành bộ Cửu Chân trong đất nước các Vua Hùng xa xưa. Ðông Khối (xã Ðông Cương, thành phố Thanh Hoá) là di chỉ công xưởng chế tác đá phong phú và rộng lớn nhất ở Việt Nam thuộc thời đại Ðồng thau cách nay 3.100 năm. Quì Chử (xã Hoằng Quì, Hoằng Hoá) là di chỉ có nhiều chiến cụ như rìu cân, rìu xéo, mũi giáo, mũi lao và mũi tên bằng đồng có trang trí bằng hoa văn đúc nổi, có cả các dụng cụ để nấu và đúc đồng. Di chỉ Ðông Sơn (nay thuộc phường Hàm Rồng, thành phố Thanh Hoá), thời Ðồng Thau là quan trọng nhất trong khảo cổ học Việt Nam, nổi tiếng trên thế giới, được đặt tên cho nền văn hoá Việt Nam ở giai đoạn cách đây 2.820 + 60 năm. Lần đầu tiên ở Việt Nam, có một nền văn hoá bao trùm một địa bàn cỡ quốc gia từ Hoàng Liên Sơn đến miền Nam Việt Nam, đó là nền Văn hoá Ðông Sơn. Riêng ở Thanh Hoá, đồ đồng Ðông Sơn đã có mặt khắp mọi miền trong tỉnh, cho tới tháng 7/1986 đã phát hiện 85 di tích. Ðồ đồng Ðông Sơn đã gồm đủ bộ công cụ, chiến cụ và nhạc cụ của người nông dân đương thời, trước khi có máy móc. Trên các đồ đồng này đều có khắc chạm đúc nổi các hoa văn trang trí, đặc biệt là các hình vẽ mô tả sinh hoạt văn hoá của người Việt thời bấy giờ. Thời Ðông Sơn, nghề dệt vải rất phát triển, chất lượng sản phẩm rất tốt, đẹp, di vật còn đến tận ngày nay. Chuôi kiếm đồng là cả một pho tượng mô tả người phụ nữ vừa đẹp về kiểu dáng vừa tiện cầm nắm. Trống đồng Ðông Sơn là nhạc khí đẹp nhất, âm lượng tốt nhất và có kích thước lớn nhất trong các di vật thời đại Ðồng Thau, Thanh Hoá là nơi phát hiện 80% số lượng các trống đồng có ở Việt Nam và thế giới. Như vậy, Thanh Hoá có những di chỉ sau đây được đặt tên cho các nền văn hoá khảo cổ: Núi Ðọ (đá cũ), Ða Bút (đá mới), Hoa Lộc (đồng đá) và Ðông Sơn (đồng thau). Bộ Cửu Chân mà lãnh thổ được xác định đầu tiên và không thay đổi của tỉnh Thanh Hoá là một trong 15 bộ của sự phân chia hành chính của thời các vua Hùng, về sau là quận, châu, trấn ở thời xưa và là tỉnh ngày nay. Ðịa danh Cửu Chân cùng với văn hoá thuần Việt Ðông Sơn còn kéo dài được nhiều thế kỷ sau Công nguyên, từ cuộc khởi nghĩa Bà Triệu (thế kỷ III sau CN) cho mãi đến thế kỷ X, những người xuất thân từ xứ này đều được gọi là người Cửu Chân.

2/Cuộc khởi nghĩa của Chu Ðạt (156 - 160)

Năm 156, Chu Ðạt, người huyện Cự Phong (nay là Phú Hào, xã Thọ Phú, huyện Triệu Sơn) chiêu mộ dân binh vây đánh huyện sở Cự Phong (vùng đất các huyện Nông Cống, Quảng Xương, Tĩnh Gia và Như Xuân, Như Thanh ngày nay) giết chết huyện lệnh rồi tiến công Tư Phố, giết chết thái thú nhà Ðông Hán, lực lượng có đến 5.000 người, quản trị Cửu Chân được 4 năm từ năm 156 đến năm 160.

3/Cuộc khởi nghĩa bà Triệu (Triệu Thị Trinh) năm 248

Từ năm 220, Cửu Chân thuộc quyền cai trị của Ðông Ngô (một trong 3 nước thời Tam Quốc), trong xứ không kể Nghệ An, Hà Tĩnh nữa, có chừng 3 vạn hộ. Bà Triệu tức Triệu Ẩu, Triệu Thị Trinh, người Quân Yên (huyện Yên Ðịnh), 20 tuổi, lập căn cứ ở Núi Nưa (Triệu Sơn), hội quân với 3 anh em họ Lý ở Bồ Ðiền (tức Phú Ðiền, huyện Hậu Lộc) cùng tiến đánh quận sở Tư Phố đại thắng. Hầu hết các huyện lỵ, thành ấp ở Cửu Chân, Cửu Ðức, Nhật Nam (2 quận nay là vùng Nghệ Tĩnh - Quảng Bình) bị nghĩa quân đánh hạ, các thái thú, huyện lệnh và huyện trưởng bị giết... nền đô hộ của nhà Hán ở Giao Châu hơn 330 năm bị lật đổ.

4/Thời nước Vạn Xuân, Lý Nam Ðế (542 - 556)

Mùa xuân 542, Lý Bí - mẹ đẻ là người Cửu Chân, khởi nghĩa thắng lợi, lập ra nước Vạn Xuân xưng là Lý Nam Ðế. Nhà Lương đàn áp. Lý Thiên Bảo là anh ruột Lý Bí rút về Dã Năng (huyện Bá Thước ngày nay) xưng là Ðào Lang Vương tiếp tục kháng chiến. Sau đó Thiên Bảo mất, Lý Phật Tử lên thay tức là Hậu Lý Nam Ðế. Năm 556, Lý Phật Tử đánh nhau với Triệu Việt Vương Triệu Quang Phục - người tiếm ngôi của Lý Bí và là người đánh bại quân đội nhà Lương ở đầm Dạ Trạch - Quang Phục thua Phật Tử, chết ở cửa biển Lạch Trào (tức Cửa Hới ngày nay).

5/Cuộc khởi nghĩa của Lê Ngọc (đầu thế kỷ VII)

Lê Ngọc (còn gọi là Lê Cốc) cùng với 4 người con lật đổ quan cai trị của nhà Tuỳ (Trung Quốc) đóng ở Ðông Phố (tức Ðồng Pho, xã Ðông Hoà huyện Ðông Sơn ngày nay), gọi là kinh đô Trường Xuân, tự quản Cửu Chân chống lại nhà Ðường cho đến đầu thế kỷ VI. Ðến thế kỷ VII, Cửu Chân gồm 6 huyện có 16.100 hộ (quận Giao Chỉ có 30.000 hộ) khoảng 84.000 nhân khẩu, thuộc xứ An Nam (tên An Nam thay cho Giao Châu bắt đầu từ đây). Quận sở là Ðông Phố (tức là Ðồng Pho). Năm 759, quân Mã Lai cướp phá Châu ái (tên gọi Cửu Chân từ năm 523) bị quan cai trị là Trương Bá Nghi tiêu diệt. Năm 797, quân Mã Lai lại cướp phá Châu ái nữa, xây cả thành, lập nước, nhưng bị quan cai trị là Trương Châu đánh đuổi, san phẳng thành trì thu hồi mọi của cải. Thế kỷ IX, Nho giáo, Lão giáo và Phật giáo đã rất phát đạt ở Châu ái. Ðạo Nho có anh em Khương Công Phụ, đỗ Tiến sỹ làm quan đến Tể tướng triều đình nhà Ðường, đạo Lão biến các hang động đẹp nhất ở khắp Vĩnh Lộc, Hà Trung, Nga Sơn làm nơi tu tiên và đạo Phật có các Ðại hoà thượng như Trí Hành và Ðại Thăng Ðăng sang tận Trung Quốc để hành đạo.

6/Thời Dương Ðình Nghệ (? - 937)

Dương Ðình Nghệ, chính khách quan trọng nhất thế kỷ X của lịch sử Việt Nam, thu hút hơn 3.000 người làm vây cánh ở làng Giàng, Tư Phố (nay là đất các xã Thiệu Dương, Thiệu Khánh, huyện Thiệu Hoá), trong đó có Ngô Quyền, Ðinh Bộ Lĩnh, Lê Hoàn, Phạm Cự Lạng... Tháng 3 năm 931, Dương Ðình Nghệ đánh đuổi thứ sử Lý Tiến của nhà Nam Hán (Trung Quốc), tiêu diệt viện binh Nam Hán, tự lập làm tiết độ sứ, chấm dứt vĩnh viễn nền đô hộ hơn 1.000 năm của người Trung Quốc ở Việt Nam. Từ Dương Ðình Nghệ, Việt Nam xác định lại được quốc thống của một đất nước độc lập hoàn toàn.

7/Thời Ngô Quyền (938 - 968)

Mùa đông năm 938, Ngô Quyền đem quân đội Cửu Chân tiến ra Bắc tiêu diệt Kiều Công Tiễn - kẻ phản bội họ Dương ở Ðại La (Hà Nội ngày nay), rồi cản phá quân Nam Hán Lưu Hoàng Thao trên sông Bạch Ðằng, lên ngôi vua tức Ngô Vương Quyền. Thời 12 sứ quân, Cửu Chân nằm trong vòng kiểm soát của Ðinh Bộ Lĩnh ở miền Ðông và của Ngô Xương Xí - cháu nội Ngô Quyền, ở Bình Kiều (đất vùng Triệu Sơn ngày nay) tức miền Tây lãnh thổ.

8/Thời Ðại Cồ Việt - Tiền Lê (968 - 1009)

 Năm 979 - 980, Lê Hoàn trấn áp xong quân chống đối của Nguyễn Bặc và Ðinh Ðiền ở vùng sông Tống (vùng đất huyện Hà Trung ngày nay) lên ngôi vua . Năm 981, ông đánh tan quân xâm lược nhà Tống, và năm 982 đánh thắng quân Chiêm Thành. Năm 982, nhà vua cho nạo vét các sông ngòi, đào kênh nối liền hệ thống sông Mã, sông Chu, sông Yên, sông Bạng cho đến vùng đất tỉnh Nghệ An ngày nay, thành một đường giao thông thuận tiện đầu tiên ở Cửu Chân và ở cả đất nước Ðại Cồ Việt. Người chỉ huy đào các kênh này là Ðào Lang, làng Bùi Ðỉnh (xã Yên Trung huyện Yên Ðịnh ngày nay). Từ năm 999 đến năm 1005, các vua tiền Lê phải trực tiếp điều quân bình định miền viễn tây Thanh Hoá nhưng chưa ổn.

9/Thời Nhà Lý (1010 - 1225)

Năm 1111, Cửu Chân đổi làm phủ Thanh Hoá. Tên Thanh Hoá bắt đầu có từ đây (Thanh: trong sạch; Hoá: biến hoá), dời lỵ sở từ Ðông Phố đến Duy Tinh (vùng đất các xã Văn Lộc, Mỹ Lộc, Thuần Lộc huyện Hậu Lộc ngày nay). Ruộng đất Thanh Hoá bắt đầu bị nhà vua lấy ban cho các đại thần dưới dạng phong ấp. Ðó chính là chế độ phong kiến hình thành ở nước ta.

10/Thời nhà Trần (1226 - 1400)

Tháng giêng năm Thiệu Long thứ XV nhà Trần (năm 1272), Lê Văn Hưu, người làng Bồi Lý (xã Thiệu Trung, Thiệu Hoá ngày nay) dòng dõi Lê Lương, soạn xong Ðại Việt sử ký toàn thư - bộ sử hoàn chỉnh đầu tiên của nước ta.

Lê Văn Hưu được tôn là ông tổ ngành sử học của Việt Nam . Ðầu năm 1285, kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ 2, ở Thanh Hoá, quân đội nhà Trần do Trần Kiên, Trần Nhật Duật, Trần Quang Khải chỉ huy chống giữ cầm chân giặc, ở các điểm Yên Duyên (xã Quảng Hùng), núi Ðá Chẹt (Quảng Lĩnh), Vân Trinh (Quảng Hợp), Bố Vệ (thành phố Thanh Hoá), Phú Tân (Hà Toại), Nga Lĩnh, Quang Lộc, Liên Lộc, chiến sự rất dữ dội. Sau khi tướng Nguyên: Toa Ðô tiến được ra sông Hồng thì Hưng Ðạo Vương lại đem 2 vua Trần rút vào Thanh Hoá (ở các vùng Nga Sơn, Hà Trung, Thạch Thành ngày nay) để bảo toàn đầu não. Ðến tháng 5 năm 1285, từ Thanh Hoá, Hưng Ðạo Vương tiến quân ra Bắc quét sạch quân Nguyên Mông khỏi bờ cõi Ðại Việt. Năm 1370, dòng họ Lê ở Ðại Lại (Ðò Lèn, Hà Ngọc huyện Hà Trung) do Lê Liêm cầm đầu hội quân Thanh Hoá tiến ra Thăng Long phế bỏ người tiếm ngôi Dương Nhật Lễ, lập lại nhà Trần bằng vua Trần Phủ - tức Trần Nghệ Tôn - nhà Trần từ đây thiên vào Thanh Hoá. Năm 1378, quân Chiêm Thành vào cướp Thanh Hoá bị quan quân nhà Trần trấn giữ đánh bại. Năm 1380, quân Chiêm Thành do đích thân vua Chế Bồng Nga chỉ huy lại vào cướp Thanh Hoá bị Hồ Quí Ly đánh bại ở cửa sông Ngu (tức Lạch Trường, Hoằng Trường ngày nay). Năm 1382, quân Chiêm Thành lại vào cướp phá Thanh Hoá, bị Nguyễn Ða Phương đánh bại ở cửa Thần Ðầu (tức Thần Phù, huyện Nga Sơn ngày nay). Năm 1389, quân Chiêm Thành lại vào cướp phá Thanh Hoá, Hồ Quí Ly chống không nổi phải bỏ chạy. Quân Chiêm Thành tiến ra Bắc. Năm 1390, tướng chỉ huy nhà Trần ở Thanh Hoá là Trần Khát Chân cản phá được quân Chiêm Thành, giết chết Chế Bồng Nga, chấm dứt vĩnh viễn sự quấy rối của các vua Chiêm Thành.

11/Thời nhà Hồ (1400 - 1407)

Mùa xuân năm 1397, xây dựng xong thành đá Tây Giai ở động Thiên Tôn (nay là đất xã Vĩnh Long, Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc). Tháng 2 năm Canh Thìn (1400), Hồ Quí Ly lên ngôi vua ở thành này, thay nhà Trần, đổi tên nước là Ðại Ngu (nghĩa là rất an vui và cùng lo việc nước), bỏ kinh đô Thăng Long, lấy thành đá mới làm quốc đô gọi là Tây Ðô. Nhà Hồ phát hành tiền giấy thay cho tiền đồng đúc từ năm 1396, đến năm 1400 định lại giá kim ngạch cho thêm chặt chẽ. Năm 1402, nhà Hồ hoàn thành việc xây dựng con đường Thiên Lý từ Tây Ðô ra Ðông Quan (tức Thăng Long cũ) và từ Tây Ðô vào Hoá Châu (vùng Quảng Bình ngày nay) dọc đường đặt nhà trạm, phố xá và bưu dịch có hệ thống. Sau một năm chiến đấu ngoan cường nhưng thất bại, năm 1407, nhà Hồ và nước Ðại Ngu mất vào tay quân xâm lược nhà Minh.

Ghi chú:Theo gia phả họ Hồ, tổ tiên Hồ Quý Ly là Hồ Hưng Dật vốn người Chiết Giang (Trung Quốc), đời Hậu Hán thời Ngũ đại Thập quốc (năm 947-950), tương đương thời Dương Tam Kha của Việt Nam, sang làm Thái thú Diễn Châu và định cư ở hương Bào Đột nay là xã quỳnh lâm, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Đến đời nhà Lý, có người trong họ lấy công chúa Nguyệt Đích, sinh ra công chúa Nguyệt Đoan. Đời cháu thứ 12 là Hồ Liêm dời đến ở hương Đại Lại, Thanh Hóa, làm con nuôi tuyên úy Lê Huấn, từ đấy lấy Lê làm họ mình. Quý Ly là cháu bốn đời của Lê Huấn. Ông có hai người cô đều được vua Trần Minh Tông lấy làm cung phi và đều trở thành mẹ hai vua nhà Trần, do đó ông sớm được đưa vào làm quan trong triều đình nhà Trần.

12/Cuộc kháng chiến 10 năm chống nhà Minh(1418 - 1428)

Mùa xuân, tháng Giêng ngày mồng 2 năm Mậu Tuất (1418), Lê Lợi cùng với những người tài giỏi trong cả nước khởi nghĩa ở Mường Chính (nay là huyện lỵ Lang Chánh) tiến về Khả Lam (tức Lam Sơn) bắt đầu cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Minh (Trung Quốc) giải phóng đất nước. Lê Lợi xưng là Bình Ðịnh Vương, người hương Lam Sơn, huyện Lương Giang (nay là xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân). Bình Ðịnh Vương chiến đấu ở Thanh Hoá 6 năm, các trận đánh lớn diễn ra ở Lam Sơn, Mường Một (vùng Bát Mọt, huyện Thường Xuân ngày nay), Mường Chính, Bến Bổng (vùng thượng du sông Âm), Ba Lẫm (vùng Chiềng Lẫm, huyện Bá Thước ngày nay), Kình Lộng (vùng Cổ Lũng, huyện Bá Thước),úng ải (vùng đèo Thiết ốvùng đèo thiết ống, huyện Bá Thước), Sách Khôi (ở khoảng giữa huyện Bá Thước và huyện Hoàng Long - Ninh Bình và huyện Thạch Thành - Thanh Hoá), Ða Căng (vùng Thọ Nguyên, Thọ Xuân), có trận phía địch có tới 10 vạn quân như ở Kình Lộng. Mùa đông năm 1424, Bình Ðịnh Vương tiến quân vào Nghệ An theo kế sách của Nguyễn Chích. Mùa thu năm 1426, quân khởi nghĩa tiến ra Bắc bao vây Ðông Quan. Ngày 17 tháng 9 năm Bính Ngọ (1426), Bình Ðịnh Vương đến Lỗi Giang (vùng đất các huyện Thạch Thành, Vĩnh Lộc ngày nay) chỉ huy bao vây Tây Ðô. Cuối năm 1426, Bình Ðịnh Vương ra Bắc chỉ huy giải phóng các miền đất Giao Chỉ (Bắc Bộ ngày nay), và vây hãm thành Ðông Quan. Ngày 22 tháng một năm Ðinh Mùi (1427), giặc Minh đầu hàng. Mùa xuân năm sau - giặc rút về, đất nước sạch bóng quân thù, thành Tây Ðô lại về Ðại Việt. Ngày 15 tháng giêng năm Mậu Thân (1428), Bình Ðịnh Vương lên ngôi hoàng đế nước Ðại Việt, thủ đô là Ðông Kinh (tức Ðông Quan, thủ đô Hà Nội ngày nay). Cả nước chia làm 3 đạo hành chính lớn, Thanh Hoá thuộc đạo Hải Tây trong số các trấn ven biển Tây Ðô.

13/Thời Lê sơ (1428 - 1516)

Tháng 11 - Kỷ Dậu (1429), vua Lê Thái Tổ về bái yết Sơn Lăng, Lam Sơn, sau 10 năm chiến đấu giành độc lập cho đất nước thắng lợi. Mùa Hè năm Canh Tuất (1430) đổi Tây Ðô làm Tây Kinh và Ðông Ðô (Hà Nội) làm Ðông Kinh. Ngày 22 tháng 8 năm Quý Sửu (1433), Lê Thái Tổ mất, một tháng sau đem về an táng ở Lam Sơn, gọi nơi an táng là Vĩnh Lăng. Tháng 12 năm Quí Sửu ( 1433) xây dựng điện Lam Sơn (gọi là Lam Kinh). Ngày 7 tháng 01 Giáp Dần (1434), điện Lam Kinh bị cháy (cháy lần thứ nhất). Tháng 9 Mậu Thìn (1448): xây dựng lại Lam Kinh do Thái uý Trịnh Khả chỉ huy. Từ Mậu Ngọ (1438) đến Mậu Tý (1468), 3 lần khơi đào các kênh trong xứ Thanh Hoá. Năm Bính Tý, tháng 4 (1516), Trịnh Duy Sản giết vua Lê Tương Dực, lập vua Lê Chiêu Tông rước về Tây Kinh.

14/Thời Lê Mạc (1516 - 1788)

Họ Mạc cướp ngôi vua Lê ở Thăng Long. Quan Ðiện tiền tướng quân là Nguyễn Kim - người Hà Trung lập căn cứ ở Thanh Hoá chống lại họ Mạc. Năm 1533 (Quí Tỵ), ông này đưa được Lê Ninh (con vua Chiêu Tông) lên ngôi tức Lê Trang Tông đánh chiếm Tây Kinh (1545) thắng lợi. Ðến năm 1545 (ất Tỵ), Nguyễn Kim mất, con rể là Trịnh Kiểm lên thay, đánh nhau nhiều trận lớn với họ Mạc ở Thanh Hoá, 17 lần quân Mạc đều thua.

Từ năm 1533 đến 1592, triều đình nhà Lê ở Thanh Hoá, quản lý đất nước từ Thanh Hoá trở vào, đóng đô ở Yên Trường (nay thuộc Yên Ðịnh) mở nhiều khoa thi, chọn người hiền tài tham gia chính quyền. Năm 1593, Trịnh Tùng - con trai Trịnh Kiểm, kế tục cha tiêu diệt họ Mạc, đưa vua Lê Thế Tông trở lại Thăng Long, lập phủ chúa, Ðàng Ngoài do vua Lê - Chúa Trịnh trị vì từ năm 1599. Trong thời đó, năm 1588, Nguyễn Hoàng (con trai của Nguyễn Kim) vào trấn thủ xứ Thuận Hoá, mở đầu sự nghiệp các Chúa Nguyễn ở Ðàng trong. Năm 1738, Lê Duy Mật (con vua Lê Dụ Tông Duy Ðường) khởi nghĩa chống Chúa Trịnh, địa bàn hoạt động rộng khắp Tây Nam, Tây, Tây Bắc Thanh Hoá và vùng Tây Bắc lẫn Tây Bắc Bộ. Năm 1770, Duy Mật bị con rể phản bội phải thua và tự sát với vợ con, chấm dứt 32 năm chiến đấu. Từ năm 1557 đến 1786, Thanh Hoá bị 10 trận bão lụt lớn xen đại hạn, 15 lần đói to chết nhiều người và 16 cuộc chiến giữa quân Trịnh - Mạc, những tai hoạ âý không hề có ở thời Lê sơ.

15/Thời Tây Sơn

Những năm quân Tây Sơn tiến công ra Bắc, quân dân Thanh Hoá do Lê Trung Nghĩa (tức Quận Mãn) chỉ huy chống lại rất dữ dội, Lê Trung Nghĩa tử trận ở Tĩnh Gia.

Quân đội Tây Sơn phá huỷ hoàn toàn Lam Kinh và kinh đô An Trường biểu tượng của các vua Lê, và còn phá huỷ nhiều chùa chiền miếu mạo khác. Năm 1790, con vua Quang Trung là Quang Bàn được cử làm trấn thủ Thanh Hoá. Năm 1792, thì tách ra 2 phủ Trường An và Thiên Quan của Thanh Hoa ngoại thành trấn Thanh Bình (tức Ninh Bình ngày nay).

16/Thời nhà Nguyễn (1802 - 1945)

Thanh Hoá là đất tổ của nhà Nguyễn, cho nên sau kinh thành Huế, Thanh Hoá đặc biệt được chú trọng. Nhà Nguyễn coi viên quan tổng đốc quản trị Thanh Hoá ngang với chức thượng thư trong triều đình và phải là một vị hoàng thân mới được làm tổng đốc tỉnh Thanh Hoá.

Ðặc biệt, triều đình ra lệnh không được đào bới khai mỏ gì ở Thanh Hoá sợ rằng xúc phạm đến oai linh của xứ sở. Nhà Nguyễn xây lăng tổ khai sáng ở Triệu Tường (Hà Trung), thành Triệu Tường lớn thứ 2 sau thành Thanh Hoá, chu vi 182 trượng (1 trượng = 4m), xây dựng lại Lam Kinh để tỏ lòng kính ngưỡng nhà Lê, dựng đền thờ các vua Lê ở Kiều Ðại (TP Thanh Hoá), hằng năm cắt cử các quan lại thay mặt nhà vua cúng tế và tổ chức phòng thủ ở Thanh Hoá rất hùng mạnh gồm một hệ thống 11 đồn binh có quân chính qui trấn giữ 7 bảo súng (pháo đài), 1 đồn thuỷ với 44 khẩu đại bác (súng thần công) mỗi đợt tuyển quân lấy của Thanh Hoá hơn 7.000 người. Ngày 25/11/1885, quân xâm lược Pháp lần đầu tiên tiến công Thanh Hoá. Trước đó, ngày 5 tháng 7, Tôn Thất Thuyết cùng vua Hàm Nghi tuyên bố chọn Thanh Hoá làm thủ phủ kháng chiến, nên tinh thần Cần Vương của quân dân Thanh Hoá rất sôi sục. Vùng rừng núi Thanh Hoá được xây dựng những sơn phòng tích trữ tiền của, lương thảo để chuẩn bị đánh giặc. Ba tháng sau (12/3/1886), nghĩa quân Cần Vương đã tiến đánh quân Pháp đóng ở thành Thanh Hoá. Mùa hè năm 1886, nghĩa quân lập bộ chỉ huy kháng chiến toàn Thanh Hoá do Tống Duy Tân đứng đầu và lập chiến khu ở Ba Ðình (Nga Sơn). Từ 18/12/1887, chiến sự dữ dội nhất giữa quân Việt Nam và Pháp đã nổ ra ở Ba Ðình. Quân Pháp phải tập trung trên địa bàn một số xã ở đây lượng binh lính lớn nhất so với toàn quốc (6.000 người trong một trận) để chiến đấu và bị thiệt hại nặng nề. Cuối cùng vì không được tiếp ứng như kế hoạch dự kiến, nghĩa quân do Ðinh Công Tráng chỉ huy đã rút lui an toàn khỏi các chiến luỹ. Ngày nay quảng trường trọng đại nhất của đất nước mang tên chiến khu này, đó là quảng trường Ba Ðình lịch sử ở thủ đô Hà Nội. Các cuộc chiến đấu chống quân đội Pháp ở Thanh Hoá đến giữa năm 1895 mới chấm dứt cùng với hàng ước của nhà Nguyễn. Thanh Hoá và các tỉnh miền Trung Việt Nam vẫn nằm trong nền độc lập hạn chế của nhà Nguyễn không bị Pháp cai trị trực tiếp. Thực tế chính quyền thuộc địa Pháp chỉ cai quản địa phận thị xã Thanh Hoá được thành lập ngày 12/7/1899 ở khu đất phía Ðông thành Thanh Hoá mà thôi. Năm 1918, chế độ thi cử tuyển hiền tài, kiểu Nho giáo ở Thanh Hoá mới bãi bỏ. Thanh Hoá bắt đầu hình thành xã hội phong kiến thuộc địa hiện đại hoá.

Từ 1802, khi bắt đầu vương triều Nguyễn đến khi sụp đổ hoàn toàn năm 1945, chế độ này đã trải qua 13 triều vua: Gia Long (1802-1819), Minh Mạng (1820-1840), Thiệu Trị 1841-1847), Tự Đức (1848-1883), Dục Đức (1883, trong 3 ngày), Hiệp Hòa (1883, trong 4 tháng), Kiến Phúc (1883-1884), Hàm Nghi (1884-1885), Đồng Khánh (1885-1888), Thành Thái (1889-1907), Duy Tân (1907-1916), Khải Định (1916-1925), Bảo Đại (1925-1945). Trong các triều vua đó, chỉ có 4 đời vua đầu tiên là chế độ phong kiến độc lập.

17/Thời hiện đại

Các năm 1926 - 1927, các tổ chức cách mạng đầu tiên ở Thanh Hoá ra đời. Ngày 25/6/1930, chi bộ Ðảng Cộng sản đầu tiên thành lập ở làng Hàm Hạ (thuộc xã Ðông Tiến, Ðông Sơn), và ngày 29/7/1930, đã thành lập Ðảng bộ tỉnh, Bí thư Tỉnh uỷ đầu tiên là đồng chí Lê Thế Long.

Tháng 9/1942, Tỉnh bộ Việt Minh Thanh Hoá thành lập. Ngày 24/7/1945, nhân dân huyện Hoằng Hoá giành chính quyền huyện thắng lợi. Ngày 19/8/1945, nhân dân thành phố Thanh Hoá và một số huyện tiến hành tổng khởi nghĩa thắng lợi. 4 ngày sau, cách mạng thành công trên toàn tỉnh. Ngày 23/8/1945, chính quyền cách mạng tỉnh Thanh Hoá ra mắt đồng bào ở thành phố Thanh Hoá. Ngày 2/9/1945, Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Cùng với cả nước, lịch sử Thanh Hoá bước vào thời kỳ phát triển mới. Trong thời đại phong kiến, người dân Thanh Hoá đã ghi lại những mốc son chói lọi trong lịch sử dựng nước, mở nước và giữ nước của cả dân tộc Việt Nam . Thanh Hoá là nơi phát tích của các vương triều: Tiền Lê (Lê Hoàn), Hồ (Hồ Qúi Ly-gốc Nghệ An, con nuôi của người Thanh Hoá), Hậu Lê (Lê Lợi), chúa Trịnh (Trịnh Kiểm), chúa Nguyễn (Nguyễn Hoàng), triều Nguyễn (Nguyễn Ánh-Gia Long). Trong sự nghiệp cách mạng ngày nay, người dân xứ Thanh cũng góp phần xứng đáng đối với cả nước để xây dựng quê hương mình nhanh chóng trở thành tỉnh giàu đẹp, văn minh.

*Sự kiện kết nghĩa với tỉnh ngoài

(theo tinh thần tất cả vì miền Nam ruột thịt)

Trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước và xây dựng miền Bắc XHCN:

Ngày 12/03/1960, tỉnh Thanh Hóa kết nghĩa với tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng

Ngày 12/02/1961, thị xã Thanh Hóa kết nghĩa với thị xã Hội An.

  TÓM LẠI LỊCH SỬ VIỆT NAM HẦU HẾT ĐỀU LÀ
                                         NGƯỜI THANH HOÁ QUÊ CHOA CẢ PHẢI KHÔNG?


MỜI XEM THÊM
:

THỐNG KÊ DANH NHÂN TRUYỀN THUYẾT, DANH NHÂN VĂN HOÁ-

- LỊCH SỬ VÀ VÕ TƯỚNG NGƯỜI THANH HOÁ QUÊ CHOA

I/Danh nhân truyền thuyết

1/Chúa Chổm

Tên truyền thuyết của vua Lê Anh Tôn (1556 - 1573), đồn rằng ông vua này thuở hàn vi nợ tiền rượu chè kinh khủng nhưng lại đem lại điều may mắn cho những người đi chợ, bán hàng, chúa Chổm người Cầu Bố nay thuộc thành phố Thanh Hoá.

2/Xiển bột

Hậu duệ hài hước của Trạng Quỳnh, sống vào khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở Thọ Xuân.

3/Liễu Hạnh hay Chúa Liễu

Theo truyện truyền kỳ của Ðoàn Thị Ðiểm, Liễu Hạnh đầu thai vào nhà ông Lê Thái ở Vụ Bản, Nam Ðịnh, lấy chồng có con, hết hạn đầy về trời. Nhưng nàng lại trở lại hạ giới ngao du sơn thuỷ và cứu nhân độ thế.

4/Mai An Tiêm

Thời Hùng Vương, Mai An Tiêm đã cùng vợ con cải thiện đảo hoang nơi bị đầy ải để tồn tại và phát triển, người nhân giống cây dưa hấu đầu tiên ở nước ta. Núi có sự tích Mai An Tiêm hiện ở Nga Thiện - Nga Sơn.

5/An Dương Vương

 Vua nước Âu Lạc, mất ở Nghi Sơn, nơi ông theo thần Kim Qui xuống biển.

6/Mỵ Châu - Trọng Thuỷ

Con gái và con rể của An Dương Vuơng. Mỵ Châu chết ở núi Ngọc úc. Trọng Thuỷ chết ở một cái giếng ở dưới chân núi Ngọc úc. Giếng này nhờ đó mang tên Ngọc Tiễn (rửa ngọc). Tất cả đều ở vùng Nghi Sơn - Hải Thượng (Tĩnh Gia-TH)

7/Từ Thức

Người đời nhà Trần, quê ở Hà Trung, đã lên tiên giới ở do một tiên cô là Giáng Hương chỉ dẫn. Ðộng tiên nơi Từ Thức đi vào nay ở xã Nga Thiện, huyện Nga Sơn

8/Chân Nhân (núi Nưa), Hồ Công (Vĩnh Lộc)

 Chân Nhân (núi Nưa), Hồ Công (Vĩnh Lộc) là những đại diện cho đạo tu tiên có nhiều phép thuật, hiện di tích còn ở núi Nưa (Triệu Sơn-TH), động Hồ Công (Vĩnh Lộc-TH)

9/Trạng Quỳnh

Ông tổ hài hước diễu cợt thần quyền, vương quyền và thói ỷ thế nước lớn áp chế nước nhỏ thời vua Lê chúa Trịnh, do nhân dân thêu dệt ra từ một nhân vật có thật là Nguyễn Quỳnh ở Hoằng Hoá TH.

II/Danh nhân văn hoá-lịch sử

1/Lê Thị Hoa (TK I)

Quê ở xã Nga Thiện (Nga Sơn-TH), là một nữ tướng tài ba của Hai Bà Trưng. Bà đã cùng 4 người con tham gia khởi nghĩa và đã lập được nhiều công tích.

2/Bà Triệu (226 - 248)

Quê ở vùng núi Quân Yên, xã Ðịnh Công (Yên Ðịnh-TH). Năm 20 tuổi, cùng anh là Triệu Quốc Ðạt dựng cờ khởi nghĩa chống giặc Ngô. Khi Triệu Quốc Ðạt mất, nghĩa quân tôn bà làm thủ lĩnhvà bà tiếp tục kháng chiến. Cuộc khởi nghĩa đã lan ra Giao Chỉ và vào tận Cửu Ðức, Nhật Nam và làm rung động cả Trung Quốc.

3/Lương Ðắc Bằng (1472 - ?)

Người làng Hội Trào, huyện Hoằng Hoá-TH. Lúc bé đã nổi tiếng thần đồng, năm 27 (hoặc 28) tuổi đỗ hội nguyên, thi đình đỗ nhất giáp tiến sĩ, tên thứ 2 (tức bảng nhãn). Ông làm quan đến thượng thư Bộ lại, được tham dự triều chính, tước Ðôn Trung Bá. Ông còn là nhà giáo mẫu mực, là thầy dạy của Nguyễn Bỉnh Khiêm, đào tạo nhiều nhân tài học thức cho xứ Thanh và đất nước.

4/Hoàng Ðình ái (1527 - 1607)

Quê ở Biện Thượng huyện Vĩnh Lộc, có công lao lớn trong cuộc trung hưng nhà Lê: bắt sống đại tướng Nguyễn Quyện, lấy lại Ðông Kinh.

5/Phạm Bành (1825 - 1887)

Quê ở làng Trương Xá, xã Hoà Lộc (Hậu Lộc-TH), đỗ cử nhân năm 1864, công Ðinh Công Tráng xây dựng căn cứ và là một trong những lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa Ba Ðình.

6/Nguyễn Hữu Dật (1604 - 1681)

Quê ở Gia Miêu, xã Hà Long huyện Hà Trung-TH, là một trong những trụ cột của chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên). Ðược giao làm bố chánh Quảng Bình. Ông có tài về chiến lược quân sự và văn thơ. Mất được truy tặng Chiêm quận công.

7/Nguyễn Chích (1382 - 1448)

Quê ở Ðông Ninh, Ðông Sơn. Ông xây dựng và lãnh đạo căn cứ Hoàng Nghiêu chống giặc Minh, khi Lê Lợi khởi nghĩa, ông đem nghĩa quân Hoàng Nghiêu theo. Ông là một tướng lĩnh tài ba, đã đề xướng kế hoạch đánh vào Nghệ An thắng lợi, làm thay đổi tình thế nghĩa quân, mở đầu cho thắng lợi liên tiếp và thắng lợi cuối cùng của nghĩa quân Lam Sơn.

8/Lưu Ðình Chất (1566 - 1627)

Người làng Quì Chử, Hoằng Hoá, là con công thần Lâm quận công Lưu Ðình Thưởng. Năm 42 tuổi ông mới thi đỗ nhị giáp tiến sỹ, mùa Hè, Quí Mùi (1623), Trịnh Xuân gây biến ông giúp Thanh Vương (Trịnh Tráng) dẹp loạn. Vì có công và tài giỏi nên vào phủ làm tham tụng, tiến lên thượng thư bộ hộ, thiếu bảo, tước Phúc quận công. Năm Ðinh Mão (1627) ông mất, thọ 62 tuổi, được truy tặng thiếu sư.

 9/Hồ Nguyên Trừng

Con trai Hồ Quí Ly, là nhà sáng chế kỹ thuật quân sự tài giỏi. Cuộc kháng chiến chống Minh thất bại, cha con ông bị bắt đưa về Trung Quốc, ở đây ông chế được nhiều loại đại bác. Làm quan đến Công bộ thượng thư. Ông còn viết sách, làm thơ với tác phẩm tiêu biểu như "Nam ông mộng lục", tỏ rõ lòng nhớ quê hương đất nước của mình.

10/Phạm Vấn (?- 1435)

Quê ở Nguyên Xá (Ðông Sơn). Tham gia khởi nghĩa Lam Sơn từ năm 1416, có công lao trong các trận Bồ Mộng, Bồ Đằng, giải phóng thành Nghệ An... Ông là một trụ cột của triều đình vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, với ngôi tể tướng. Mất, truy tặng Thái phó, năm 1484 truy phong Trấn quận công.

11/Ðinh Củng Viên (?- 1294)

Quê ở huyện Ðông Sơn, là một nhà ngoại giao tài giỏi dưới đời Trần Thánh Tông (1258 -1278), khi mất được phong tặng chức Thái phó

12/Hoàng Bật Ðạt (1842 - 1887)

Là một trong những người chỉ huy tài giỏi, kiên cường của nghĩa quân Ba Ðình trong phong trào Cần Vương chống Pháp

13/Trịnh Thị Ngọc Trúc (?)

 Là con gái Trịnh Tráng, là chính cung hoàng hậu của vua Lê Thần Tông (1619 - 1643). Người ta cho rằng bà là tác giả bộ từ điển Hán - Nôm cổ nhất của nước ta "Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa"

14/Trịnh Duy Thuân (? - 1542)

 Người sách Thuỷ Chú, huyện Lôi Dương (Thọ Xuân ngày nay), là cháu công thần An Quốc công Trịnh Khắc Phục. được phong Lỵ Quốc công, trấn giữ Thanh Hoá (1522) khi Mạc Ðăng Dung cướp ngôi nhà Lê (1527), ông là người bảo vệ che chở hoàng tử Lê Duy Ninh và cùng với chiêu huân công Nguyễn Kim sắm sửa binh lương, chiêu tập hào kiệt mở đầu cuộc trung hưng nhà Lê, việc chưa thành, ông mất năm 1542.

15/Cầm Bá Thước (1853 - 1895)

Quê ở Trịnh Vạn, Thường Xuân, Thanh Hoá. Năm 1895, phong trào Cần Vương của nhân dân Thanh Hoá phát triển mạnh mẽ, ông lãnh đạo nhân dân lập căn cứ Trịnh Vạn tổ chức chống Pháp. Ông được Tôn Thất Thuyết phong cho chức Tán tướng quân vụ, và tiến hành các trận đánh đồn Po Lẹ, đồn Cửa Đặt... gây cho Pháp nhiều thiệt hại. Bị sa vào tay giặc, ông không khai nửa lời, hy sinh anh dũng.

16/Nguyễn Mậu Tuyên (1518-1599)

Người làng Thịnh Mỹ, huyện Lôi Dương (Thọ Xuân ngày nay), dòng dõi công thần (cháu Thúc quốc công Nguyễn Nhữ Lãm). Ông học sâu, hiểu rộng, làm quan đến tể tướng, mẫu mực khuôn phép cho trăm quan. Làm quan tới Thiếu phó Quỳnh quận công. Mất truy tặng Thiếu sư

17/Nguyễn Thu (1799 - 1855)

Còn có tên là Nguyễn Bão, quê xã Nông Trường (Triệu Sơn), đậu cử nhân năm 1821, làm án sát và tham dự biên soạn "Thực lục tiền biên", sau thăng Thị lang Hộ bộ. Ông đă để lại 17 tác phẩm lịch sử, triết học, thơ văn như Lê Quí ký sự, Việt Thi tục biên,...

18/Trịnh Tùng (1546 - 1623)

Người kế tục sự nghiệp của cha là Trịnh Kiểm và hoàn thành sự nghiệp trung hưng nhà Lê. Ông là Chúa thứ 2 dòng chúa Trịnh, ở ngôi chúa 54 năm và thiết lập nên thể chế nhà nước mới: vua-chúa ở Việt Nam

19/Nguyễn Mộng Tuân (TK XV)

Quê ở xã Ðông Anh (Ðông Sơn-TH). Năm 1400, đậu thái học sinh và tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, lập được nhiều công lớn. Dưới thời vua Lê Nhân Tông, ông được cử đi đánh quân Chiêm Thành. Nguyễn Mộng Tuân còn là nhà thơ với các tác phẩm Cúc Pha thi tập, Chí Linh sơn phú,..

20/Trịnh Tuê (còn gọi là Trịnh Huê) ( 1704 - ?)

Quê ở Biện Thượng, nay thuộc xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc (trú quán ở xã Bất Quần, nay là Quảng Thịnh, Quảng Xương). Ông đỗ Trạng nguyên khoa Bính Thìn (1736) đời Lê ý Tông. Ðây là người được phong trạng nguyên cuối cùng của nước ta. Ông từng giữ chức Tham Tụng, Thượng thư bộ Hình, Tế tửu (hiệu trưởng) Quốc tử giám. Khi mất được tặng Hữu thị lang

21/Ðào Duy Từ (1572 - 1634)

Quê làng Hoa Trai, xã Nguyên Bình (Tĩnh Gia). Ông là một trong những vị khai quốc công thần nhà Nguyễn, một nhà quân sự, ngoại giao, văn hoá tài giỏi. Ông đã có công giúp nhà Nguyễn mở mang kinh tế, giữ yên lãnh thổ, được phong tước Lộc Khê hầu và thờ trong Thái Miếu, ông là tác giả của tác phẩm Hổ trướng khu cơ, Ngoạ Long cương Vãn, Tư Dung vãn...

22/Lê Bật Tứ (1562 - 1627)

Quê ở xã Tân Ninh (Triệu Sơn). Năm 1598, đậu tiến sĩ. Năm 1619, được phong chức thượng thư bộ binh, rồi Tham tụng, ông còn là một nhà ngoại giao tài giỏi, một vị quan chính trực, nhiều lần khuyên chúa Trịnh trị tội bọn gian thần

23/Nguyễn Ðôn Tiết (1836 - ?)

Quê ở xã Hoằng Ðức (Hoằng Hoá) đậu phó bảng năm 1879. Năm 1885, hưởng ứng chiếu Cần vương, ông đă mộ quân phối hợp với nghĩa quân Hoàng Bật Ðạt tấn công đồn Pháp ở Bút Sơn. Sa vào tay giặc (1886), ông bị đầy đi tù ở Lao Bảo và hi sinh ở đấy

24/Lê Thánh Tông (1442 - 1497)

Lê Thánh Tông sinh ngày 20 tháng 7 năm Nhân Tuất (1442) huý là Tư Thành, là con thứ tư vua Lê Thái Tông và Hoàng hậu Ngô Thị Ngọc Dao; là cháu nội vua Lê Thái Tổ, mất ngày 30 tháng 12 năm Ðinh Tỵ ( 1497). Năm 1460, ông lên ngôi vua trị vì được 38 năm với hai niên hiệu: Quang Thuận (1460 - 1469) và Hồng Ðức (1470 - 1497). Ông là nhà cải cách lớn trong lịch sử Việt Nam . Bộ luật thành văn đầu của nước ta, được soạn dưới thời ông. Ông là người sáng lập hội Tao Ðàn, để lại nhiều tập thơ, 1 tập truyện ký và rất nhiều bài viết đặc sắc trong các tập Hồng Ðức thi tập, Thánh Tông di cảo...

25/Lê Trạc Tú (?)

Người làng Thượng Cốc, huyện Lôi Dương (Thọ Xuân ngày nay), ông nội là Tán Thiện, chú là Tán Tương cùng đỗ tiến sĩ khoa Kỷ Mùi (1499), ông đỗ Ðệ nhất giáp chế khoa, khoa Ðinh Sửu (1577), khi làm Thượng thư bộ lại và Tể tướng ông cất nhắc người hiền tài, ông sống ngay thẳng, trong sạch, trong nhà không có của dư.


Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Thị Ngoc @ 23:22 20/04/2010
Số lượt xem: 1618
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến

Cùng cười nào!!!